Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên giáo dục Cần Thơ.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Giáo án tổng hợp

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lư Thị Bé Bay (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:57' 29-12-2022
Dung lượng: 311.3 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích: 0 người
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SAU ĐẠI HỌC
----------------

BÀI TIỂU LUẬN
TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG

VẬN DỤNG LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN TÂM LÝ XÃ HỘI CỦA
ERIK ERIKSON VÀO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM
LÝ HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN

NGƯỜI THỰC HIỆN

TS. NGUYỄN THỊ BÍCH PHƯỢNG

LƯ THỊ BÉ BAY
MSHV: M482004
MSHP: SPQ626
LỚP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KHÓA 29

CẦN THƠ - 2022

1

MỤC LỤC
1. Đặt vấn đề .............................................................................................................. 1
2. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 1
3. Cách tiếp cận lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của E. Erickson .................... 2
3.1 Người đại diện ................................................................................................... 2
3.1 Vận dụng lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erik Erikson vào trong hoạt
động tư vấn tâm lý học đường tại trường trung học phổ thông ................... 9
4. Kết luận ................................................................................................................ 10
5. Tài liệu tham khảo .............................................................................................. 11

1

1. Đặt vấn đề
Thuyết “Phát triển tâm lý” của E. Erickson ra đời đã cung cấp một ý tưởng khoa
học đúng đắn cho sự phát triển của nhân loại nói chung, ngành khoa học, đặc biệt là
khoa học nghiên cứu về tâm lý con người nói riêng.
Hiện nay, tâm lý học đường đang là vấn đề vô cùng nhạy cảm và cũng là áp lực rất
lớn đối với phía nhà trường, các nhà chức trách cùng hội phụ huynh học sinh.
Đứng trước thực trạng căng thẳng của tâm lý học đường thì giải pháp tốt và hữu
hiệu nhất đối với tình trạng này đó chính là tăng cường hoạt động tư vấn tâm lý học
đường. Tốt nhất nhà trường và các bậc phụ huynh nên thực hiện tư vấn học đường cho
trẻ từ khi chúng còn ngồi trên ghế nhà trường, đặc biệt là các giai đoạn trẻ đang dậy thì,
tâm lý và thể chất có những thay đổi.
Quá trình tư vấn tâm lý học đường cho học sinh không chỉ giúp các em giải quyết
được những vấn đề đang gặp phải mà còn hỗ trợ cải thiện tốt các mối quan hệ giữa con
cái với cha mẹ, học trò với thầy cô, giữa bạn bè với nhau, …
Cùng với sự ra đời và phát triển của ngành tâm lý học thì các học thuyết khác nhau
về tâm lý cũng ra đời. Điển hình như: Lý thuyết “Nhân cách con người” của S. Freud;
Lý thuyết nhu cầu của Maslow; Thuyết 'Thân chủ trọng tâm” của Cral Rogers; Thuyết
“Phát triển tâm lý” của E. Erickson; Phương pháp xúc cảm hợp lý của Albert Ellis; Lý
thuyết “Tiếp cận cấu trúc” của trường phái Gestalt.
Mỗi học thuyết mang lại một giá trị riêng. Trong đó, học thuyết của Erikson khác
với nhiều học thuyết khác vì nó nhấn mạnh sự phát triển tâm lý qua từng giai đoạn cụ
thể và mỗi giai đoạn có một đặc trưng tâm lý khác nhau. Vì thế, thuyết phát triển tâm lý
của E. Erickson được vận dụng nhiều trong tư vấn học đường ở các cấp học.
Tư vấn tâm lý học đường cho học sinh đóng một vai trò rất quan trọng đối với quá
trình học tập và định hướng tương lai cho trẻ nhỏ. Để công tác tư vấn được hiệu quả và
thành công thì người thực hiện công tác này cần hiểu rõ nội dung các lý thuyết về tâm
lý học, cần phải biết được các giải pháp cụ thể của từng giai đoạn phát triển tâm lý để
áp dụng phù hợp cho từng cấp độ khác nhau.
2. Phương pháp nghiên cứu

2

Để thực hiện đề tài: “Cách tiếp cận lý thuyết phát triển tâm lý xã hội E. Erikson và
cách vận dụng vào trong tư vấn học đường tại trường trung học phổ thông”. Tác giả đã
sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
Phân tích các tài liệu liên quan đến tâm lý học, tư vấn học đường, tham vấn tâm

-

lý.
Tổng hợp các thông tin liên quan đến tư vấn học đường tại trường phổ thông

-

3. Cách tiếp cận lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của E. Erickson
3.1. Người đại diện
Erik Erikson (1902-1994) là nhà tâm lý học Mĩ gốc Đức, là một trong những tác
giả đầu tiên nhấn mạnh đến các khía cạnh của xã hội ảnh hưởng đến các giai đoạn phát
triển lứa tuổi, mà ở đó mỗi giai đoạn có những mâu thuẫn nhất định giữa nhu cầu cá
nhân và sự đáp ứng xã hội. Học thuyết của E. Ẻickson đã phát triển từ học thuyết Freud,
nhưng nhấn mạnh chủ yếu đến các vấn đề thích nghi mà môi trường xã hội đặt ra cho
các nhân cho 8 giai đoạn khủng hoảng lớn của cuộc đời. Dưới sự tác động của môi
trường xã hội, những mâu thuẫn đó nếu được giải quyết sẽ làm cho nhân cách trẻ được
phát triển. Trong trường hợp ngược lại, cá nhân sẽ có những rối loạn tâm lý, gây ảnh
hưởng tới sự phát triển ở các giai đoạn lứa tuổi sau.
Erik Erikson là một nhà tâm lý học nghiên cứu về bản ngã, ông là người xây dựng
nên một trong những học thuyết nổi tiếng, mang tầm ảnh hướng nhất về sự phát triển
của con người. Mặc dù bị ảnh hưởng bởi nhà phân tâm học Sigmund Freud, nhưng học
thuyết của Erikson tập trung nhiều vào sự phát triển tâm lý xã hội thay vì sự phát triển
tâm lý tính dục.
Các giai đoạn trong học thuyết này bao gồm:
-

Giai đoạn 1 – Tin tưởng và Không tin tưởng
Giai đoạn 2 – Tự chủ và Hoài nghi.
Giai đoạn 3 – Óc sáng kiến và Mặc cảm tội lỗi.
Giai đoạn 4 – Có năng lực và Tự ti, kém cỏi.
Giai đoạn 5 – Bản sắc và Lẫn lộn vai trò
Giai đoạn 6 – Thân thiết và Cô lập.
Giai đoạn 7 – Phát triển và Trì trệ
Giai đoạn 8 – Hoàn thành và Thất vọng.

3

Mỗi giai đoạn trong học thuyết của Erikson được “đắp nền” từ giai đoạn trước đó
và chính từng giai đoạn này sẽ dọn đường cho các giai đoạn tiếp theo sau nó trong quá
trình phát triển.
Trong mỗi giai đoạn, Erikson tin rằng con người trải qua một mâu thuẫn, và mâu
thuẫn này đóng vai trò là cột mốc chuyển đổi trong sự phát triển. Theo quan điểm của
Erikson, những mâu thuẫn này tập trung vào, hoặc là hình thành hoặc không thể hình
thành một phẩm chất tâm lý. Trong những khoảng thời gian này, khả năng phát triển
thành công của cá nhân đó rất cao và khả năng thất bại cũng là rất lớn.
Nếu con người ta xử lý thành công mâu thuẫn, họ sẽ bước vào giai đoạn mới với
các sức mạnh tâm lý hữu ích giúp họ trong cả cuộc đời. Nếu họ thất bại trong việc xử lý
hiệu quả những xung đột này, họ không thể hình thành những kỹ năng thiết yếu cần có
để hiểu rõ chính mình.
Erikson cũng tin rằng cảm nhận về năng lực của bản thân sẽ giúp thúc đẩy hành vi
và hành động của cá nhân đó. Mỗi giai đoạn trong học thuyết của Erikson đều đào sâu
vào quá trình hình thành năng lực trong một khía cạnh nào đó của cuộc sống. Nếu giai
đoạn này được xử lý tốt, chủ thể sẽ cảm nhận được quyền làm chủ, mà đôi khi còn được
gọi là sức mạnh bản ngã hay năng lực bản ngã. Nếu không xử lý tốt giai đoạn này thì
chủ thể sẽ cảm thấy sự bất cân xứng, thiếu hụt trong chính những khía cạnh kể trên.
Giai đoạn 1 – Tin tưởng và Không tin tưởng
Giai đoạn đầu tiên trong học thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson xuất hiện
trong khoảng từ khi mới sinh ra đến một tuổi (0- 12 tháng tuổi) và là giai đoạn nền tảng
nhất trong cuộc đời. Sự tin tưởng >< sự không tin tưởng, lo hãi, hụt hẩng, liên quan đến
sự thõa mãn hay không thoã mãn các nhu cầu sinh lý cơ bản. Nếu không đáp ứng được
thõa mãn, ví dụ trẻ khóc vì đói nhưng người mẹ lại đáp ứng lôn xộn: lúc thì cho ăn hoặc
lúc thì không cho ăn hoặc đáp ứng một nhu cầu không phải của trẻ- bế hoặc tắm rửa, sự
đáp ứng tùy tiện này sẽ làm cho trẻ rối loạn phản ứng và không thành lập được phản xạ
có điều kiện và động hình. Vì vậy trẻ sẽ nghi ngờ, mất niềm tin vào bản thân và những
người xung quanh. Ngược lại, nếu người mẹ (xã hội- bên ngoài) luôn đáp ứng nhu cầu,
trẻ sẽ hành động theo phản xạ có điều kiện, theo kinh nghiệm, “niềm tin” của trẻ và vì
thế trẻ có được sự tự tin và lòng tin cậy vào người khác.

4

Đương nhiên, không có đứa trẻ nào lớn lên mà cảm nhận được 100% tin tưởng hay
100% nghi ngờ. Erikson tin rằng phát triển thành công là phải giữ ở một mức cân bằng
giữa hai thái cực này.
Khi điều này xảy ra, trẻ có được niềm hy vọng, cái mà Erikson mô tả là sự cởi mở
trước một trải nghiệm tôi luyện bằng sự thận trọng rằng hiểm nguy có thể hiện hữu.
Giai đoạn 2 – Tự chủ và Hoài nghi.
Giai đoạn hai trong thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson diễn ra trong suốt
đầu thời thơ ấu (từ 12 tháng - 3 tuổi) và tập trung váo quá trình trẻ hình thành một cảm
quan lớn hơn về năng lực kiểm soát cá nhân.
Giai đoạn gắn với sự tập luyện đầu tiên và chủ yếu là tập luyện sạch sẽ, tương ứng
với giai đoạn hậu môn của Freud. Nếu trẻ được giúp đỡ để làm chủ cơ thể, trẻ sẽ tự chủ,
tự kiểm soát và hình thành ý thức độc lập theo. Giai đoạn này trẻ thường hành động theo
kiểu khăng khăng “tự con” một cách bướng bỉnh. Ngược lại, sự kiểm tra và làm hộ con
một cách thái quá hoặc tác động không nhất quán từ bên ngoài (chủ yếu là cha mẹ, người
thân trong nhà) có thể dẫn đến sự hổ thẹn và sự hoài nghi khả năng của bản thân, liên
quan đến sợ hãi, lệ thuộc và mất tự chủ.
Vào thời điểm này, trẻ mới bắt đầu có được một chút cái gọi là độc lập tự chủ. Trẻ
bắt đầu tự mình thực hiện những hành động cơ bản và đưa ra những quyết định đơn giản
về cái chúng lựa chọn. Việc cho phép trẻ đưa ra lựa chọn và có được quyền kiểm soát
sẽ tạo điều kiện cho người chăm sóc giúp trẻ hình thành cảm nhận về sự tự chủ.
Giống như Freud, Erikson tin rằng tập cho trẻ đi toilet là một cấu phần sống còn
trong quá trình này. Tuy nhiên, cách lý luận của Erikson khá khác biệt với Freud. Erikson
tin rằng việc học cách kiểm soát quá trình vận hành của bản thân sẽ giúp trẻ cảm thấy
mình có quyền kiểm soát và cảm nhận rõ ràng về tính độc lập.
Trẻ nào hoàn thành giai đoạn này thành công sẽ cảm thấy an tâm và tự tin, trong
khi những trẻ không hoàn thành tốt sẽ cảm thấy thiếu hụt và tự nghi hoặc bản thân mình.
Erikson tin rằng việc đạt được sự cân bằng giữa sự tự chủ, nỗi tủi hổ và sự nghi ngờ sẽ
giúp trẻ tạo dựng ý chí, chính là niềm tin rằng trẻ có thể hành xử có suy tính, biết suy
nghĩ và có giới hạn.

5

Giai đoạn 3 – Óc sáng kiến và Mặc cảm tội lỗi.
Giai đoạn 3 của quá trình phát triển tâm lý xã hội diễn ra trước tuổi đến trường (36 tuổi). Tại giai đoạn này, trẻ bắt đầu khẳng định sức mạnh và sự kiểm soát thế giới qua
hoạt động đóng kịch và các hoạt động tương tác xã hội khác.
Đây là thời kì trẻ khẳng định bản thân, liên quan đến sự ửng hộ, giúp đỡ những
việc mà trẻ muốn tự làm. Nếu người lớn để trẻ em thực hiện sẽ cho phép phát triển sự
sáng tạo, sự khẳng định bản thân. Ngược lại, nếu bị cản trở, gặp thất bại liên tục với
hành động không có trách nhiệm, có nguy cơ đưa trẻ đến cam chịu và có mặc cảm tội
lỗi.
Trẻ nào thành công trong giai đoạn này sẽ cảm thấy mình có khả năng và có thể
lãnh đạo người khác. Trẻ nào không có được những kỹ năng này sẽ cảm thấy tội lỗi,
nghi ngờ bản thân và thiếu sự chủ động.
Khi trẻ đạt được trạng thái cân bằng lý tưởng giữa tính chủ động cá nhân và thái
độ sẵn sàng hợp tác với người khác, phẩm chất bản ngã mang tên “chủ tâm” xuất hiện.
Giai đoạn 4 – Có năng lực và Tự ti, kém cỏi.
Giai đoạn phát triển tâm lý xã hội thứ tư diễn ra trong những năm tháng đi học đầu
đời, (độ tuổi từ 6 đến 12). Trẻ cần được chuẩn bị tốt các nhiệm vụ có liên quan đến
trường học. Việc luyện cho trẻ tính ham thích làm việc, ham muốn học hỏi kiến thức,
học làm việc giúp trẻ có cảm giác thành công. Điều này giúp trẻ hình thành sự ham thích
làm việc tốt. Ngược lại, nếu trẻ không được học hỏi, khám phá, trẻ sẽ có cảm giác thấy
mình kém cỏi, nhút nhát khi sử dụng các công cụ, phương tiện hoạc đứng trước bạn bè.
Kết quả này chủ yếu do không khí học tập và phương pháp giáo dục ở nhà trường tạo
nên.
Nhờ tương tác xã hội, trẻ bắt đầu cảm thấy tự hào về những thành tích và năng lực
của bản thân. Trẻ nào nhận được sự động viên và khen ngợi từ cha mẹ và thầy cô sẽ bắt
đầu cảm nhận về năng lực và niềm tin vào các kỹ năng của mình. Trẻ nào không nhận
được sự khích lệ từ cha mẹ, thầy cô hoặc bạn bè sẽ nghi ngờ về năng lực đạt được thành
công của mình.

6

Thành công tìm được sự cân bằng trong giai đoạn phát triển này sẽ tạo nên một
sức mạnh có tên là năng lực, tức là niềm tin về khả năng xử lý tốt công việc mình được
giao.
Giai đoạn 5 – Bản sắc và Lẫn lộn vai trò
Giai đoạn thứ năm trong quá trình phát triển tâm lý xã hội diễn ra trong những năm
tháng tuổi teen đầy xáo trộn (giai đoạn 12 – 18 tuổi). Giai đoạn này đóng một vai trò
thiết yếu trong sự phát triển cảm nhận về định hình (bản dạng) cái tôi, bản dạng này sẽ
tiếp tục ảnh hưởng lên hành vi và sự phát triển của toàn bộ cuộc sống sau này.
Giai đoạn này còn gọi là khủng hoảng tuổi dậy thì. Cùng với sự phát triển hoàn
thiện về sinh lý, kinh nghiệm sống và vai trò xã hội, trẻ nhận thức được bản sắc, giái trị
của bản thân. Bản sác liên quan đến sự thống hợp các kinh nghiệm trước đây với các
tiềm năng. Trẻ không thể hoặc khó có thể tìm ra bản sác của cá nhân, sẽ dẫn đến sự lẫn
lộn vai trò mà trẻ phải đóng trên bình diện cảm xúc, xã hội nghề nghiệp trong giai đoạn
đó và suốt cuộc đời.
Trong suốt tuổi vị thành niên, trẻ khám phá sự tự lập và hình thành cảm nhận về
bản thân. Những người nhận được sự khích lệ và củng cố phù hợp sẽ vượt qua giai đoạn
này với sự cảm nhận mạnh mẽ về bản thân, cảm giác tự lập và chủ động kiểm soát.
Những người vẫn còn không chắc chắn về những niềm tin và ham muốn của mình sẽ
cảm thấy bất an và bối rối về bản thân cũng như tương lai.
Khi các nhà tâm lý học nói về nhân dạng, họ đang ám chỉ đến tất cả những niềm
tin, lý tưởng và giá trị giúp định hình và dẫn dắt hành vi của một người. Hoàn tất thành
công giai đoạn này đưa đến cái gọi là sự trung thành xã hội, mà theo như Erikson mô tả,
là khả năng sống theo những tiêu chuẩn và mong đợi từ xã hội.
Mặc dù Erikson tin rằng mỗi giai đoạn của quá trình phát triển tâm lý xã hội đều
quan trọng nhưng ông lại “nhấn” đặc biệt vào quá trình định hình cái tôi. Định hình cái
tôi ở đây là cảm nhận rõ ràng về bản thân, hiểu rõ rằng chúng ta phát triển lên nhờ những
tương tác xã hội và trở thành một chủ thể trọng tâm trong suốt giai đoạn này của quá
trình phát triển tâm lý xã hội.
Theo Erikson, định hình cái tôi liên tục thay đổi nhờ những trải nghiệm và thông
tin mới ta thu nhận được qua tương tác hằng ngày với người xung quanh. Khi ta có

7

những trải nghiệm mới, ta cũng đương đầu với những thách thức có thể giúp hoặc cản
trở quá trình phát triển của cái tôi.
Định hình cái tôi cá nhân mang đến cho mỗi người một cảm nhận thống nhất và rõ
ràng kéo dài trong suốt cuộc đời. Cảm nhận của chúng ta về bản dạng cá nhân được định
hình bằng những trải nghiệm và tương tác với người khác, và chính bản dạng này sẽ dẫn
dắt hành động, niềm tin và hành vi của chúng ta khi ta ngày một lớn lên.
Giai đoạn 6 – Thân thiết và Cô lập.
Giai đoạn này trải dài trong thời kỳ đầu giai đoạn trưởng thành khi con người ta
khám phá những mối quan hệ cá nhân (từ 18-40 tuổi). Đây là giai đoạn của người trẻ
tuổi, tương ứng với việc tìm kiếm sự mật thiết của tình yêu đôi lứa để cùng chia sẽ về
việc làm, giải trí, tình dục và sinh sản con cái nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện.
Ngược lại, nếu thanh niên không được trãi nghiệm những nhu cầu này sẽ dẫn đến tự
cách ly và co mình lại, xa lánh xã hội và mọi người xung quanh.
Erikson tin rằng việc chúng ta hình thành những mối quan hệ gần gũi, gắn kết với
người khác là một điều tối quan trọng. Những người hoàn thành bước này tốt sẽ hình
thành được những mối quan hệ bền lâu và đảm bảo.
Erikson tin rằng cảm quan rõ ràng về bản dạng cá nhân là vô cùng quan trọng cho
sự phát triển của các mối quan hệ thân thiết. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người
có cảm quan kém về bản thân thực sự có ít mối quan hệ gắn kết hơn và dễ bị cô lập cảm
xúc, cô đơn và trầm cảm.
Giải quyết thành công giai đoạn này sẽ đưa đến một “trái ngọt” gọi là tình yêu
thương, được xác định bằng khả năng hình thành những mối quan hệ lâu bền và có ý
nghĩa với những người khác.
Giai đoạn 7 – Phát triển và Trì trệ
Đây là giai đoạn của tuổi trung niên (từ 40-60 tuổi). Đặc điểm của nó là tính phát
triển, thể hiện khả năng sáng tạo trong các lĩnh vực khác nhau, sự quan tâm và giáo dục
thế hệ tiếp theo. Con người có thiên hướng quan tâm phát triển đạo lý hơn vật chất, quan
hệ tính dục dần mờ nhạc và được xã hội hóa. Ở giai đoạn này con người cần duy trì đời
sống cảm xúc để tránh sự cạn kiệt tình cảm do các sự cố của gia đình hoặc sự tách dời
của các con. Điều cốt yếu của tuổi trung niên là giữ cho được sự mềm dẻo về tâm trí

8

thông qua việc đi tìm các giải pháp mới là duy trì những thói quen, kinh nghiệm cứng
nhắc. Điều này làm cho con người bị trì trệ, ngưng phát triển.
Người thành công trong giai đoạn này sẽ cảm thấy mình đang chủ động đóng góp
cho thế giới qua các hoạt động ở nhà và ở cộng đồng. Những người không thể đạt được
kỹ năng này sẽ cảm thấy mình không có ích và không gắn kết với thế giới.
Chăm sóc là phẩm chất đạt được khi vượt qua giai đoạn này thành công. Tự hào
về những thành tích của bản thân, nhìn con cái trưởng thành mỗi ngày và hình thành
một cảm nhận về sự thống nhất với bạn đời là những thành tích quan trọng đạt được
trong giai đoạn này.
Giai đoạn 8 – Hoàn thành và Thất vọng.
Giai đoạn phát triển tâm lý xã hội cuối cùng xuất hiện trong suốt những năm về
già và tập trung vào những hồi tưởng về cuộc đời (giai đoạn từ 60 tuổi trở lên).
Tưng ứng với tuổi già. Giai đoạn tổng kết toàn bộ các việc đã làm trong quá khứ,
chấp nhận chúng như một sự toàn vẹn cá nhân. Khi con người không chấp nhận tuổi già
với quá khứ đã trải qua, họ sẽ thất vọng vì không làm lại được những cái đã qua thuộc
về tuổi trẻ. Con người sẽ kết thúc đời mình trong sự sợ hãi vì cái chết sẽ đến trong nỗi
thất vọng không thể làm lại cuộc đời. Ở giai đoạn này, cá nhân có thể ở vào hai cảm giác
khác nhau: 1) cảm giác đã hoàn thành mọi công việc, nghiwax vụ của họ đối với giai
đình, xã hội và bản thân; 2) cảm giác thất vọng khi họ cảm thấy về tuổi già còn nhiều
điều chưa làm được cho gia đình, xã hội, cho chính bản thân.
Tại thời điểm này, con người ta sẽ nhìn về lại những sự kiện trong cuộc sống và
xác định xem mình có hạnh phúc với cuộc sống mình đã sống hay hối hận về những
điều họ làm hoặc đã không làm.
Những người không thành công ở giai đoạn này sẽ cảm thấy cuộc sống của họ bị
lãng phí và sẽ trải qua vô cùng nhiều nỗi ân hận. Họ sẽ cảm thấy cay đắng và thấy vọng.
Người nào cảm thấy tự hào về những thành tích mình đạt được sẽ cảm thấy được
sự trọn vẹn thống nhất.

9

Thành công hoàn thành giai đoạn này nghĩa là hồi tưởng lại nhưng không có nhiều
điều hối hận và nhìn chung là hài lòng về những gì đã qua. Những người này có được
sự khôn ngoan, thậm chí ngay cả khi đối mặt với cái chết.
3.2 Vận dụng lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erik Erikson vào hoạt động tư
vấn tâm lý học đường tại trường trung học phổ thông
Ứng dụng thuyết “phát triển tâm lý xã hội của E. Erickson” vào tư vấn học đường
tại trường học, người thực hiện cần phải có sự hiểu biết tốt các giai đoạn của con người,
hiểu biết ngững khủng hoản tất yếu xảy ra trong từng giai đoạn để giúp học sinh nhận
thức và đạt được sức mạnh của bản ngã để giải quyết khủng hoảng trong quá trình phát
triển.
Cho cái nhìn tổng quát về sự phát triển cái tôi và những khả năng tương tác của
con người trong suốt thời thơ ấu.
Xác định những thời kỳ, giai đoạn chính mà các em học được về bản thân và cách
các em sẽ tương tác với người khác.
Chỉ ra những nhân tố môi trường cần thiết cho trẻ để phát triển một cách phù hợp.
Cung cấp một phương tiện để phân tích lý do giải thích tại sao một số trẻ không
phát triển phù hợp với giai đoạn phát triển.
Người phụ trách hoạt động tư vấn học đường tại trường phổ thông cần đáp ứng đủ
các yêu cầu sau:
-

Yêu cầu về kiến thức: kiến thức tâm lý học phát triển; kiến thwucs tham vấn cơ
bản; lý thuyết “phát triển tâm lý xã hội của E. Erickson”; các kiến thức liên quan
đến hành chánh trường học và công tác xã hội.

-

Yêu cầu về kỹ năng: kỹ năng phát hiện sớm; kỹ năng đánh giá tâm lý học sinh;
kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt độngphòng ngừa toàn trường; kỹ năng can
thiệp; kỹ năng phối hợp các lực lượng giáo dục; kỹ năng lập và lưu hồ sơ tâm lý
học sinh.

-

Yêu cầu về phẩm chất: quan tâm đến học sinh và sẵn sáng giúp đỡ; tôn trọng học
sinh; chấp nhận; nhiệt tình trong công việc; quan tâm đến nhu cầu của học sinh.

10

Người phụ trách hoạt động tư vấn học đường tại trường phổ thông cần tuân thủ các
nguyên tắc đạo đức sau:
-

Đảm bảo bí mật thông tin cho học sinh

-

Tôn trọng học sinh

-

Chấp nhận không phán xét học sinh

-

Dành quyền tự quyết cho học sinh

-

Bảo vệ lợi ích tốt nhất cho học sinh
Người phụ trách hoạt động tư vấn học đường tại trường phổ thông cần biết các vấn

đề thường gặp ở học sinh trong trường học như sau:
-

Những khó khăn tâm lý học tập

-

Khó khăn tâm lý trong mối quan hệ bạn bè, với thầy cô giáo, với các thành viên
trong gia đình, với những người xung quanh.

-

Khó khăn trong nhận thức liên quan đến giới, giới tính và sức khở sinh sản.

-

Vấn đề nghiện internet
Người phụ trách hoạt động tư vấn học đường tại trường phổ thông cần thực hiện

các tiến trình sau:
-

Thiết lập mối quan hệ giữa người tư vấn tại nhà trường với học sinh

-

Thu thập thông tin xác định vấn đề

-

Giúp học sinh đưa ra những hướng giải pháp (đưa ra lời khuyên) và có thể lựa
chọn giải pháp tốt nhất, phù hợp nhất đối với hoàn cảnh của học sinh

4. Kết luận
Học thuyết của E. Ẻickson đã phát triển từ học thuyết Freud, nhưng nhấn mạnh
chủ yếu đến các vấn đề thích nghi mà môi trường xã hội đặt ra cho các nhân cho 8 giai
đoạn khủng hoảng lớn của cuộc đời. Dưới sự tác động của môi trường xã hội, những
mâu thuẫn đó nếu được giải quyết sẽ làm cho nhân cách trẻ được phát triển. Tuy nhiên,
học thuyết của Erikson cũng có những hạn chế và vấp phải một số chỉ trích nhất định.
Như, cần phải có những trải nghiệm kiểu gì để thành công trong mỗi giai đoạn? Làm
cách nào một người chuyển từ giai đoạn này qua giai đoạn khác? Một khiếm khuyết lớn
của thuyết tâm lý xã hội này là cơ chế chính xác để giải quyết các xung đột và chuyển
từ giai đoạn này sang giai đoạn kế tiếp không được mô tả và xây dựng rõ ràng. Học

11

thuyết này cũng không mô tả rõ dạng trải nghiệm nào là cần phải có ở mỗi giai đoạn để
giải quyết thành công các mâu thuẫn và tiến đến giai đoạn kế tiếp.
Một trong những thế mạnh của học thuyết này là nó cung cấp một khung thời gian
rộng mà từ đó ta có thể quan sát sự phát triển của một người trong suốt cuộc đời. Nó
cũng cho phép ta nhấn mạnh vào bản chất xã hội của loài người và ảnh hưởng quan
trọng mà các mối quan hệ xã hội tác động lên quá trình phát triển. Vì thế, quá trình vận
dụng vào trong hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường phổ thông, người thực hiện
cần xác định rõ đối tượng tư vấn tâm lý và vận dụng một cách linh hoạt để đạt kết quả
cao trong hoạt động tư vấn tâm lý trường học.
5. Tài liệu tham khảo
1. Phạm Văn Tư và các cộng sự (2020), Tham vấn trường học, Nxb Giáo dục Việt

Nam.
2. Trần Thị Minh Đức (2012), Giáo trình tham vấn tâm lý, Nxb Đại học Quốc Gia

Hà Nội.
3. Bùi Thị Mùi (2008), Giáo trình giáo dục học, Nxb Đại học Cần Thơ.
4. Erikson, E.H. Childhood and Society. (2nd ed.). New York: Norton; 1993.
5. Erikson, EH & Erikson, JM. The Life Cycle Completed. New York: Norton;

1998.
6. Carver, CS & Scheir, MF. Perspectives on Personality. Needham Heights, MA:
Allyn & Bacon; 2011.
7. Nguồn: https://www.verywellmind.com/erik-eriksons-stages-of-psychosocialdevelopment-2795740
8. Nguồn: https://trangtamly.blog/2019/10/30/hoc-thuyet-ve-8-giai-doan-phat-trientam-ly-xa-hoi-cua-erikson/.
 
Gửi ý kiến