Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên giáo dục Cần Thơ.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Quản lí Giáo dục (CĐ-ĐH). Giáo án tổng hợp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lư Thị Bé Bay (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:54' 29-12-2022
Dung lượng: 89.5 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lư Thị Bé Bay (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:54' 29-12-2022
Dung lượng: 89.5 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: GIÁO DỤC SO SÁNH
NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
“PHÂN TÍCH ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA HỆ THỐNG GIÁO DỤC TƯ
VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY”
Người hướng dẫn:
Người thực hiện:
PGs.TS LÊ VIỆT DŨNG
LƯ THỊ BÉ BAY
Lớp: Quản lý Giáo dục K29
MSHV: M4822004
Cần Thơ, 2022
1
MỤC LỤC
Trang
I. MỞ ĐẦU
3
II.NỘI DUNG
3
1. KHÁI NIỆM TRƯỜNG CÔNG VÀ TRƯỜNG TƯ TRONG HỆ
THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM
3
1.1. Khái niệm trường công trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam
3
1.2. Khái niệm trường tư trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam
3
2. ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG CHUẨN ĐẦU VÀO GIỮA HỆ THỐNG
GIÁO DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
4
2.1. Vấn đề tài chính giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
4
2.2. Vấn đề chất lượng giáo viên giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại
Việt Nam.
4
2.3. Vấn đề tuyển sinh giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
4
3. ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO GIỮA HỆ
THỐNG GIÁO DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
4
3.1. Vấn đề trường lớp giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
4
3.2. Vấn đề chương trình đào tạo giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại
Việt Nam.
5
3.3. Vấn đề chất lượng giảng dạy giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại
Việt Nam.
5
4. ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG CHUẨN ĐẦU RA GIỮA HỆ THỐNG
GIÁO DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
6
III. KẾT LUẬN
6
TÀI LIỆU THAM KHẢO
7
2
I.MỞ ĐẦU
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm biến đổi thế giới. Giáo dục cũng
chịu sự tác động sâu sắc từ những biến đổi này. Sự xuất hiện các công nghệ mới đặt ra
những yêu cầu khắt khe, đòi hỏi các trường đào tạo phải đổi mới cho phù hợp. Từ đó,
xu hướng cạnh tranh giữa hệ thống giáo dục Công và Tư tại Việt Nam ngày càng khốc
liệt liệt hơn.
Để thích ứng được trong một môi trường nhiều biến động, hệ thống giáo dục
Công và Tư tại Việt Nam cần phát huy tối đa những mặt tích cực và giải quyết những
mặt tiêu cực. Qua nội dung phân tích dưới đây, sẽ thấy được điểm khác biệt cơ bản
giữa hệ thống giáo dục Công và Tư tại Việt Nam. Từ đó, mở ra cho chúng ta có cái
nhìn khách quan hơn về hệ thống giáo dục Công và Tư tại Việt Nam.
II.
NỘI DUNG
1. KHÁI NIỆM TRƯỜNG CÔNG VÀ TRƯỜNG TƯ TRONG HỆ THỐNG GIÁO
DỤC VIỆT NAM
1.1
Khái niệm trường công trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam
Trường Công Lập là trường trực thuộc của nhà nước trung ương hay địa phương
và do nhà nước đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất. Có thể kể đến như là đầu tư cơ sở vật
chất là các khu nhà cửa hay đất đai để xây dựng trường và kinh phí xây dựng trường,
… và trường hoạt động chủ yếu là bằng các nguồn tài chính công và các khoảng đóng
góp phi vụ lợi.
1.2
Khái niệm trường tư trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam
Trường Tư Thục hay thường được gọi là trường tư, trường do cá nhân (tư nhân)
hay do một nhóm cá nhân xin phép thành lập rồi tự đầu tư và điều hành có thể là
trường Đại học Tư Thục hoặc là Trung học Tư Thục. Trường tư nhân hay còn được
gọi là trường độc lập và không phải quản lý bởi chính quyền hay là cơ quan địa
phương, nên sẽ giữ được quyền lựa chọn học sinh – sinh viên của họ.
3
2.
ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG CHUẨN ĐẦU VÀO GIỮA HỆ THỐNG GIÁO
DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
2.1 Vấn đề tài chính giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
Các cơ sở giáo dục Công được nhà nước trung ương hay địa phương đầu tư kinh
phí và cơ sở vật chất. Trong khi đó, các cơ sở giáo dục tư thục không được nhận hỗ trợ
ngân sách nhà nước và vẫn phải nộp thuế kinh doanh như các doanh nghiệp khác.
Kinh phí đầu tư chủ yếu xuất phát từ các cá nhân và doanh nghiệp tâm huyết với giáo
dục.
II.2. Vấn đề chất lượng giáo viên giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt
Nam.
Tại các cơ sở giáo dục Công đội ngũ giáo viên, giảng viên trình độ chuyên môn
cao, giàu kinh nghiệm, đa phần là biên chế viên chức được hưởng đầy đủ các chế độ
đãi ngộ ngay cả khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh. Trong khi đó, tại các cơ sở giáo dục Tư
đội ngũ giáo viên, giảng viên trẻ trung, năng động. Thường có những phương pháp
dạy học mới lạ, thu hút, tạo hứng thú nhiều cho học sinh, sinh viên.
Trong khi giáo viên trường công lập luôn cần được chứng nhận, giáo viên trường
tư thường không cần chứng nhận chính thức. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia trong lĩnh
vực của họ hoặc có bằng thạc sĩ hoặc thậm chí tiến sĩ. Mặc dù rất khó khăn để loại bỏ
giáo viên trường công lập, giáo viên trường tư thường có hợp đồng được tái tạo mỗi
năm.
II.3. Vấn đề tuyển sinh giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
Tại hệ thống trường Công, vấn đề x ét tuyển đầu vào khá khắt khe phải thông qua
các kỳ thi theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo. Điểm chuẩn đầu vào khá cao và
phải đáp ứng những tiêu chí nhất định. Trong khi đó, tại hệ thống trường Tư điểm
chuẩn đầu vào các trường dân lập khá thấp, nhiều trường khi tuyển sinh đầu vào chỉ
cần xét tuyển học bạ.
3. ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO GIỮA HỆ THỐNG
GIÁO DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
4
3.1. Vấn đề trường lớp giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
Quy mô lớp học là một trong những khác biệt lớn giữa các trường công lập và
trường tư. Quy mô lớp học trong các trường công lập đô thị có thể lớn đến 25-30 học
sinh (hoặc nhiều hơn) trong khi hầu hết các trường tư đều giữ cho lớp học của họ gần
hơn với trung bình 10-15 học sinh, tùy thuộc vào trường.
Tại hệ thống trường Công do nguồn kinh phí phụ thuộc vào vốn của Nhà nước,
các khoản đóng góp công nên việc xin cấp vốn để đầu tư sửa chữa, lắp đặt hay đổi mới
cơ sở vật chất kỹ thuật, … thường gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, nguồn vốn của
trường dân lập là từ người dân, việc sửa chữa, lắp đặtnâng cấp phòng học, trang thiết
bị được lãnh đạo trường toàn quyền quyết định. Vì thế, nhiều hệ thống trường Tư trang
bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, cơ sở hạ tầng hiện đại, khang trang hơn; các trang thiết bị
hỗ trợ học tập, giải trí cho sinh viên cũng đa dạng.
3.2. Vấn đề chương trình đào tạo giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt
Nam.
Tại hệ thống trường Công, chương trình đào tạo mang tính truyền thống theo quy
định của Bộ Giáo dục Đào tạo, vẫn còn thiên về lý thuyết, đại cương. Tuy nhiên ở
trường công lập cũng có các câu lạc bộ, các khóa học, chương trình phát triển kỹ năng
mềm, … để người học có thể khai phá, phát triển bản thân theo hướng tự nhiên, chủ
động. Chương trình học ít được tiếp xúc trong môi trường học Quốc tế. Trong khi đó,
tại hệ thống trường Tư, chương trình đào tạo đa dạng hơn, chú trọng về thực tiễn hơn –
Có liên kết với các trường quốc tế giúp cho học sinh, sinh viên được phát triển theo
hướng hội nhập. Chương trình học chú trọng phát triển kiến thức, kỹ năng chuyên môn
để có thể vận dụng linh hoạt trong thực tiễn.
3.3. Vấn đề chất lượng giảng dạy giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt
Nam.
Chất lượng giảng dạy là điều cần chú trọng nhất. Chương trình đào tạo giữa hệ
thống Công và Tư thường không quá khác nhau. Đều phải tuân thủ qui định chung của
Bộ Giáo Dục, truyền đạt những kiến thức cơ bản nhất cho mỗi cấp, mỗi lớp, mỗi
ngành học. Tuy nhiên, có một số trường Tư còn thêm vào chương trình kiến thức nâng
5
cao, các buổi ngoại khóa, lớp năng khiếu, … Giúp học sinh, sinh viên phát triển toàn
diện về thể chất lẫn tinh thần.
4.
ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG CHUẨN ĐẦU RA GIỮA HỆ THỐNG GIÁO
DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
Thường thì khi các bạn đã học trường Công hay trường Tư Thục sẽ chọn trường
các bậc học cao hơn (Đại học – Cao Đẳng) sẽ tiếp tục học trường Công Lập hay
trường Tư Thục như cũ, do các em đã quen với hình thức đào tạo riêng của mỗi
trường. Cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp sẽ là như nhau, nhưng tùy theo môi trường
văn hóa công ty sẽ có sự ưu tiên riêng. Chẳng hạn như những công ty trong nước, các
nhà tuyển dụng sẽ ưu tiên những sinh viên tốt nghiệp trường Công Lập thuộc xếp hạng
hàng đầu cả nước. Ngược lại các công ty nước ngoài lại không mấy quan tâm đến đều
này. Nhưng hiện nay, hơn hết các công ty sẽ tuyển dụng nhân viên dựa trên năng lực
của ứng viên, và khả năng hòa nhập cũng như ứng dụng những kiến thức đã học ở trên
giảng đường, trong cuộc sống vào cộng việc, vị trí mà mình được nhận. Thế nên dù
học trường Công Lập hay Tư Thục thì chúng ta cũng không cần quá lo lắng, vì chúng
ta luôn có nhiều cơ hội lựa chọn công việc phù hợp với bản thân mình.
III. KẾT LUẬN
Trên đây là những điểm khác biệt giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt
Nam hiện nay. Suy cho cùng cần phải xem xét khi chọn lựa trường trường công hay
trường tư cũng tùy thuộc vào nhu cầu của người học. Không thể phủ nhận rằng, nhờ
các điểm khác biệt đó mà các cơ sở giáo dục tư thục đã và đang góp phần tăng cơ hội
tiếp cận giáo dục cho mọi trẻ em, giúp giảm bớt rất nhiều cho gánh nặng ngân sách
nhà nước tại các trường công lập, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh
trong phát triển giáo dục từ mầm non đến đại học.
Rõ ràng, giáo dục tư thục đã tạo ra nhiều luồng gió mới, là động lực cho cả nền
giáo dục nước nhà, bù đắp lại những điều còn hạn chế ở môi trường công lập, đưa giáo
dục Việt Nam đến gần hơn với giáo dục thế giới.
Đối tượng thụ hưởng của hoạt động giáo dục là học sinh và phụ huynh cũng có
thêm nhiều lựa chọn về môi trường phù hợp với định hướng giáo dục và cả đặc điểm,
6
thế mạnh của từng học sinh. Và quan trọng hơn, giáo dục tư thục chính là chất xúc tác
để môi trường công lập không ngừng cải thiện chất lượng của chính họ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Quốc hội, “Luật Giáo dục năm 2019”, số 43/2019/QH14, 2019.
2.
https://thuvienquocgia.vn
3.
https://luatvietnam.vn
7
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: GIÁO DỤC SO SÁNH
NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
“PHÂN TÍCH ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA HỆ THỐNG GIÁO DỤC TƯ
VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY”
Người hướng dẫn:
Người thực hiện:
PGs.TS LÊ VIỆT DŨNG
LƯ THỊ BÉ BAY
Lớp: Quản lý Giáo dục K29
MSHV: M4822004
Cần Thơ, 2022
1
MỤC LỤC
Trang
I. MỞ ĐẦU
3
II.NỘI DUNG
3
1. KHÁI NIỆM TRƯỜNG CÔNG VÀ TRƯỜNG TƯ TRONG HỆ
THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM
3
1.1. Khái niệm trường công trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam
3
1.2. Khái niệm trường tư trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam
3
2. ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG CHUẨN ĐẦU VÀO GIỮA HỆ THỐNG
GIÁO DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
4
2.1. Vấn đề tài chính giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
4
2.2. Vấn đề chất lượng giáo viên giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại
Việt Nam.
4
2.3. Vấn đề tuyển sinh giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
4
3. ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO GIỮA HỆ
THỐNG GIÁO DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
4
3.1. Vấn đề trường lớp giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
4
3.2. Vấn đề chương trình đào tạo giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại
Việt Nam.
5
3.3. Vấn đề chất lượng giảng dạy giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại
Việt Nam.
5
4. ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG CHUẨN ĐẦU RA GIỮA HỆ THỐNG
GIÁO DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
6
III. KẾT LUẬN
6
TÀI LIỆU THAM KHẢO
7
2
I.MỞ ĐẦU
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm biến đổi thế giới. Giáo dục cũng
chịu sự tác động sâu sắc từ những biến đổi này. Sự xuất hiện các công nghệ mới đặt ra
những yêu cầu khắt khe, đòi hỏi các trường đào tạo phải đổi mới cho phù hợp. Từ đó,
xu hướng cạnh tranh giữa hệ thống giáo dục Công và Tư tại Việt Nam ngày càng khốc
liệt liệt hơn.
Để thích ứng được trong một môi trường nhiều biến động, hệ thống giáo dục
Công và Tư tại Việt Nam cần phát huy tối đa những mặt tích cực và giải quyết những
mặt tiêu cực. Qua nội dung phân tích dưới đây, sẽ thấy được điểm khác biệt cơ bản
giữa hệ thống giáo dục Công và Tư tại Việt Nam. Từ đó, mở ra cho chúng ta có cái
nhìn khách quan hơn về hệ thống giáo dục Công và Tư tại Việt Nam.
II.
NỘI DUNG
1. KHÁI NIỆM TRƯỜNG CÔNG VÀ TRƯỜNG TƯ TRONG HỆ THỐNG GIÁO
DỤC VIỆT NAM
1.1
Khái niệm trường công trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam
Trường Công Lập là trường trực thuộc của nhà nước trung ương hay địa phương
và do nhà nước đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất. Có thể kể đến như là đầu tư cơ sở vật
chất là các khu nhà cửa hay đất đai để xây dựng trường và kinh phí xây dựng trường,
… và trường hoạt động chủ yếu là bằng các nguồn tài chính công và các khoảng đóng
góp phi vụ lợi.
1.2
Khái niệm trường tư trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam
Trường Tư Thục hay thường được gọi là trường tư, trường do cá nhân (tư nhân)
hay do một nhóm cá nhân xin phép thành lập rồi tự đầu tư và điều hành có thể là
trường Đại học Tư Thục hoặc là Trung học Tư Thục. Trường tư nhân hay còn được
gọi là trường độc lập và không phải quản lý bởi chính quyền hay là cơ quan địa
phương, nên sẽ giữ được quyền lựa chọn học sinh – sinh viên của họ.
3
2.
ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG CHUẨN ĐẦU VÀO GIỮA HỆ THỐNG GIÁO
DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
2.1 Vấn đề tài chính giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
Các cơ sở giáo dục Công được nhà nước trung ương hay địa phương đầu tư kinh
phí và cơ sở vật chất. Trong khi đó, các cơ sở giáo dục tư thục không được nhận hỗ trợ
ngân sách nhà nước và vẫn phải nộp thuế kinh doanh như các doanh nghiệp khác.
Kinh phí đầu tư chủ yếu xuất phát từ các cá nhân và doanh nghiệp tâm huyết với giáo
dục.
II.2. Vấn đề chất lượng giáo viên giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt
Nam.
Tại các cơ sở giáo dục Công đội ngũ giáo viên, giảng viên trình độ chuyên môn
cao, giàu kinh nghiệm, đa phần là biên chế viên chức được hưởng đầy đủ các chế độ
đãi ngộ ngay cả khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh. Trong khi đó, tại các cơ sở giáo dục Tư
đội ngũ giáo viên, giảng viên trẻ trung, năng động. Thường có những phương pháp
dạy học mới lạ, thu hút, tạo hứng thú nhiều cho học sinh, sinh viên.
Trong khi giáo viên trường công lập luôn cần được chứng nhận, giáo viên trường
tư thường không cần chứng nhận chính thức. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia trong lĩnh
vực của họ hoặc có bằng thạc sĩ hoặc thậm chí tiến sĩ. Mặc dù rất khó khăn để loại bỏ
giáo viên trường công lập, giáo viên trường tư thường có hợp đồng được tái tạo mỗi
năm.
II.3. Vấn đề tuyển sinh giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
Tại hệ thống trường Công, vấn đề x ét tuyển đầu vào khá khắt khe phải thông qua
các kỳ thi theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo. Điểm chuẩn đầu vào khá cao và
phải đáp ứng những tiêu chí nhất định. Trong khi đó, tại hệ thống trường Tư điểm
chuẩn đầu vào các trường dân lập khá thấp, nhiều trường khi tuyển sinh đầu vào chỉ
cần xét tuyển học bạ.
3. ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO GIỮA HỆ THỐNG
GIÁO DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
4
3.1. Vấn đề trường lớp giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt Nam.
Quy mô lớp học là một trong những khác biệt lớn giữa các trường công lập và
trường tư. Quy mô lớp học trong các trường công lập đô thị có thể lớn đến 25-30 học
sinh (hoặc nhiều hơn) trong khi hầu hết các trường tư đều giữ cho lớp học của họ gần
hơn với trung bình 10-15 học sinh, tùy thuộc vào trường.
Tại hệ thống trường Công do nguồn kinh phí phụ thuộc vào vốn của Nhà nước,
các khoản đóng góp công nên việc xin cấp vốn để đầu tư sửa chữa, lắp đặt hay đổi mới
cơ sở vật chất kỹ thuật, … thường gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, nguồn vốn của
trường dân lập là từ người dân, việc sửa chữa, lắp đặtnâng cấp phòng học, trang thiết
bị được lãnh đạo trường toàn quyền quyết định. Vì thế, nhiều hệ thống trường Tư trang
bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, cơ sở hạ tầng hiện đại, khang trang hơn; các trang thiết bị
hỗ trợ học tập, giải trí cho sinh viên cũng đa dạng.
3.2. Vấn đề chương trình đào tạo giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt
Nam.
Tại hệ thống trường Công, chương trình đào tạo mang tính truyền thống theo quy
định của Bộ Giáo dục Đào tạo, vẫn còn thiên về lý thuyết, đại cương. Tuy nhiên ở
trường công lập cũng có các câu lạc bộ, các khóa học, chương trình phát triển kỹ năng
mềm, … để người học có thể khai phá, phát triển bản thân theo hướng tự nhiên, chủ
động. Chương trình học ít được tiếp xúc trong môi trường học Quốc tế. Trong khi đó,
tại hệ thống trường Tư, chương trình đào tạo đa dạng hơn, chú trọng về thực tiễn hơn –
Có liên kết với các trường quốc tế giúp cho học sinh, sinh viên được phát triển theo
hướng hội nhập. Chương trình học chú trọng phát triển kiến thức, kỹ năng chuyên môn
để có thể vận dụng linh hoạt trong thực tiễn.
3.3. Vấn đề chất lượng giảng dạy giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt
Nam.
Chất lượng giảng dạy là điều cần chú trọng nhất. Chương trình đào tạo giữa hệ
thống Công và Tư thường không quá khác nhau. Đều phải tuân thủ qui định chung của
Bộ Giáo Dục, truyền đạt những kiến thức cơ bản nhất cho mỗi cấp, mỗi lớp, mỗi
ngành học. Tuy nhiên, có một số trường Tư còn thêm vào chương trình kiến thức nâng
5
cao, các buổi ngoại khóa, lớp năng khiếu, … Giúp học sinh, sinh viên phát triển toàn
diện về thể chất lẫn tinh thần.
4.
ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG CHUẨN ĐẦU RA GIỮA HỆ THỐNG GIÁO
DỤC TƯ VÀ CÔNG TẠI VIỆT NAM
Thường thì khi các bạn đã học trường Công hay trường Tư Thục sẽ chọn trường
các bậc học cao hơn (Đại học – Cao Đẳng) sẽ tiếp tục học trường Công Lập hay
trường Tư Thục như cũ, do các em đã quen với hình thức đào tạo riêng của mỗi
trường. Cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp sẽ là như nhau, nhưng tùy theo môi trường
văn hóa công ty sẽ có sự ưu tiên riêng. Chẳng hạn như những công ty trong nước, các
nhà tuyển dụng sẽ ưu tiên những sinh viên tốt nghiệp trường Công Lập thuộc xếp hạng
hàng đầu cả nước. Ngược lại các công ty nước ngoài lại không mấy quan tâm đến đều
này. Nhưng hiện nay, hơn hết các công ty sẽ tuyển dụng nhân viên dựa trên năng lực
của ứng viên, và khả năng hòa nhập cũng như ứng dụng những kiến thức đã học ở trên
giảng đường, trong cuộc sống vào cộng việc, vị trí mà mình được nhận. Thế nên dù
học trường Công Lập hay Tư Thục thì chúng ta cũng không cần quá lo lắng, vì chúng
ta luôn có nhiều cơ hội lựa chọn công việc phù hợp với bản thân mình.
III. KẾT LUẬN
Trên đây là những điểm khác biệt giữa hệ thống giáo dục Tư và Công tại Việt
Nam hiện nay. Suy cho cùng cần phải xem xét khi chọn lựa trường trường công hay
trường tư cũng tùy thuộc vào nhu cầu của người học. Không thể phủ nhận rằng, nhờ
các điểm khác biệt đó mà các cơ sở giáo dục tư thục đã và đang góp phần tăng cơ hội
tiếp cận giáo dục cho mọi trẻ em, giúp giảm bớt rất nhiều cho gánh nặng ngân sách
nhà nước tại các trường công lập, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh
trong phát triển giáo dục từ mầm non đến đại học.
Rõ ràng, giáo dục tư thục đã tạo ra nhiều luồng gió mới, là động lực cho cả nền
giáo dục nước nhà, bù đắp lại những điều còn hạn chế ở môi trường công lập, đưa giáo
dục Việt Nam đến gần hơn với giáo dục thế giới.
Đối tượng thụ hưởng của hoạt động giáo dục là học sinh và phụ huynh cũng có
thêm nhiều lựa chọn về môi trường phù hợp với định hướng giáo dục và cả đặc điểm,
6
thế mạnh của từng học sinh. Và quan trọng hơn, giáo dục tư thục chính là chất xúc tác
để môi trường công lập không ngừng cải thiện chất lượng của chính họ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Quốc hội, “Luật Giáo dục năm 2019”, số 43/2019/QH14, 2019.
2.
https://thuvienquocgia.vn
3.
https://luatvietnam.vn
7
 






Các ý kiến mới nhất